Tinh chỉnh

Các bài viết liên quan tới tinh chỉnh(tuning).

Quản lý log trên PostgreSQL

Chào các bạn. Bài viết này mình xin giới thiệu thêm về một chức năng cơ bản mà rất cần thiết khi thiết kế sử dụng một cơ sở dữ liệu PostgreSQL cho người sử dụng. Như tiêu đề đã nêu, đó là quản lý log.
Log là một phần không thể thiếu trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới database như phát hiện lock wait, deadlock, tình trạng checkpoint, autovacuum, phát hiện slow query... Thiết kế sao cho log chứa những thông tin hữu ích để giải quyết những vấn đề xảy ra trong lúc hoạt động, và làm sao để việc xuất log không ảnh hưởng nhiều tới hệ thống là một phần không thể thiếu đối với một quản trị viên cơ sở dữ liệu.

Chức năng log của PostgreSQL

Log là chức năng có sẵn của PostgreSQL, ta có thể sử dụng mà không cần cài đặt thêm module nào cả. Chức năng log của PostgreSQL lưu trữ các thao tác, lỗi khi sử dụng, vận hành, ... dưới dạng text, cho phép người dùng có thể quan sát trực tiếp. PostgreSQL có thể thiết kế để xuất log tới syslog(linux) hay event log(windows), mặc định PostgreSQL xuất log bên dưới pg_log bên dưới thư mục cơ sở dữ liệu (nếu tham số logging_collector thiết lập là on). Để quản lý đơn giản hơn thường dữ liệu log được thiết lập để xuất bên dưới thư mục cơ sở dữ liệu. Bài viết này mình cũng đưa ra những ví dụ log từ pg_log bên dưới thư mục cơ sở dữ liệu.

Chú ý khi thiết kế log

Trạng thái xuất log mặc định

Giá trị khởi tạo của tham số logging_collector là off, tức là log messages không được lưu trữ. Nhưng nếu bạn tạo database cluster theo cách bên dưới đây thì giá trị mặc định đối với tham số logging_collector cho database cluster đó là on.

  • Database được tạo ra lúc cài đặt PostgreSQL bằng (EDB) Installer trên môi trường Windows.
  • Database được tạo ra bởi initdb được cài đặt từ rpm từ community.

Chú ý khác với initdb của rpm, database cluster được tạo ra bằng cách chạy trực tiếp lệnh initdb của EDB installer (ít nhất tại thời điểm hiện tại) lại có mặc định logging_collector = off.

Một số chú ý về log của PostgreSQL khi lưu trữ bên dưới thư mục dữ liệu

  • Mặc định log của PostgreSQL tăng không có giới hạn
    Mặc định các tham số log_filenamelog_truncate_on_rotation làm cho log không có cơ chế loại bỏ được log cũ nên dung lượng log sẽ tăng không ngừng theo thời gian. Ta phải thiết kế để tránh tình trạng trên và sao cho phù hợp với yêu cầu hệ thống.
  • Không thể giới hạn được dung lượng xuất log của PostgreSQL
    Như giải thích về tham số log_rotate_size ở bên dưới. Chúng ta không thể giới hạn được dung lượng xuất log của PostgreSQL. Bởi vậy nên cần tính toán thiết kế sao cho lượng log không xuất ra quá nhiều so với mong đợi.

Các tham số liên quan tới log của PostgreSQL

PostgreSQL có rất nhiều paramters liên quan tới log, nội dung giải thích bên dưới mình chỉ tập chung vào các tham số thường được sử dụng trong vận hành và lúc tuning (tinh chỉnh). Cụ thể các tham số đó vui lòng tham khảo ở Document của PostgreSQL.

Các tham số liên quan tới PostgreSQL được chia ra 3 nhóm chính. Mình sẽ đi vào giải thích các tham số trong từng nhóm.

Trong các tham số liên quan tới log, duy có tham số logging_collector khi thay đổi cần restart server(pg_ctl restart) để có hiệu lực. Các paramter khác có thể reload server(pg_ctl reload), hoặc một vài paramter có thể thiết lập trong từng session(bằng cách sử dụng câu lệnh SET).

Nơi xuất log

tên paramter chức năng chú thích
log_destination Tham số chỉ định nơi xuất log.

PostgreSQL có 3 phương pháp chỉ định nơi xuất log, stderr: bên dưới database cluster (pg_log or log) dưới dạng text, csvlog: như stderr nhưng xuất theo định dạng csv, syslog: xuất log ra log hệ thống(linux OS), eventlog: xuất log ra event log trên môi trường Windows. Mặc định giá trị của tham số này là 'stderr'. 

Ta có thể chỉ định nhiều nơi xuất log qua dấu phân cách ",". Ví dụ log_destination = 'stderr, eventlog' # xuất log dạng text vào $PGDATA/log và eventlog trên Windows.

Thực tế để quản lý log dễ dàng hơn tham số này thường được để mặc định.

logging_collector Tham số chỉ định cho phép lưu trữ log vào file hay không.

Mặc định cho là off khi tạo database cluster bằng lệnh initdb. Khi thay đổi giá trị, cần khởi động lại server để có hiệu lực

Tham số này chỉ có hiệu quả khi log_destination là csvlog hay stderr.

log_directory Tham số chỉ định nơi lưu log khi log_destination là stderr hoặc csvlog

Từ phiên bản PostgreSQL 10 mặc định cho tham số này chuyển từ pg_log sang log. Các thư mục này nằm bên dưới thư mục cơ sở dữ liệu.

log_filename Tham số chỉ định tên của file log

Giá trị chỉ định của tham số này giống như chuẩn Open Group's ftrtime. Bạn có thể chỉ định tên file log theo ngày(postgresql-%d.log: thiết lập này sẽ lưu số lượng log file bằng số ngày của tháng là 31), thứ trong tuần(postgresql-%a.log: thiết lập này sẽ lưu trữ số lượng log file bằng số lượng ngày trong tuần là 7),.. Mặc định giá trị cho tham số này là 'postgresql-%Y-%m-%d_%H%M%S.log' tức là tên log file sẽ chứa thời gian tới đơn vị giây. Đồng nghĩa với việc số lượng log file không kiểm soát được, ta nên chỉnh lại tham số này trước khi đưa vào vận hành.

Ví dụ: với thiết lập log_filename = 'postgresql-%a.log'. Trong vận hành ta sẽ có 7 log files(1 log file cho mỗi ngày trong tuần) như bên dưới.

$ ll $PGDATA/log/
total 16
-rw-------. 1 postgres postgres    0 May  4 00:00 postgresql-Fri.log
-rw-------. 1 postgres postgres    0 May  7 00:00 postgresql-Mon.log
-rw-------. 1 postgres postgres 1039 May  5 16:07 postgresql-Sat.log
-rw-------. 1 postgres postgres    0 May  6 00:00 postgresql-Sun.log
-rw-------. 1 postgres postgres  941 May  3 18:39 postgresql-Thu.log
-rw-------. 1 postgres postgres   74 May 11 23:55 postgresql-Tue.log
-rw-------. 1 postgres postgres  718 May 16 06:31 postgresql-Wed.log
log_file_mode Tham số chỉ định quyền tham chiếu tới log file Mặc định là 0600, nghĩa là chỉ có OS user sở hữu server (user dùng để khởi động PostgreSQL) là có thể tham chiếu tới log file.
log_rotation_age Tham số chỉ định rotate log file(ghi sang log file khác khi tới ngưỡng chỉ định) theo thời gian Mặc định là một ngày, tức là cứ sau 1 ngày log file mới sẽ được tạo ra theo định dạng chỉ định trong tham số log_filename.
log_rotation_size Tham số chỉ định rotate log file(ghi sang log file khác khi tới ngưỡng chỉ định) theo kích thước Mặc định là 10MB. Tức là cứ 10MB, sẽ có log file mới được tạo ra theo định dạng trong tham số log_filename. Lưu ý rằng log file mới tạo ra theo định dạng của log_filename, nên chỉ khi tên log file mới được tạo ra quá trình rotate mới xảy ra. Điều này dẫn đến ta không thể kiểm soát được dung lượng log xuất ra
log_truncate_on_rotation Tham số chỉ định có truncate log cũ khi rotation hay không

Mặc định tham số này là off. Tức là không truncate(xóa) log cũ khi rotation thực thi. Nên dung lượng file log sẽ lớn dần theo thời gian. Nếu không có cơ chế backup log cụ thể nào nên để tham số này là on.

Chú ý rằng thời điểm thực hiện rotation dựa vào log_filename(ví dụ khi log_rotation_age=1d, log_filename='postgresql-%d.log' thì rotation sẽ diễn ra vào lúc 0 giờ hằng ngày). Tại thời điểm 0 giờ này nếu PostgreSQL đang dừng hoạt động thì xử lý truncate sẽ không diễn ra khi khởi động PostgreSQL, khi đó PostgreSQL chỉ chèn thêm log messages vào log file hiện tại.

Thời điểm xuất log

tên paramter chức năng chú thích
client_min_mesages Tham số chỉ định mức độ mà log messages sẽ trả về cho phía client(khi chạy các câu lệnh SQL)

Mặc định cho tham số này là NOTICE. Tức là chỉ những messages có mức độ từ NOTICE trở lên(NOTICE, WARNING, ERROR, FATAL, PANIC) mới trả về cho client.

postgres=# set client_min_messages to log;
SET
postgres=# set log_min_duration_statement to 0;
LOG:  duration: 0.103 ms  statement: set log_min_duration_statement to 0;
SET
postgres=# select pg_sleep(1);
LOG:  duration: 1003.193 ms  statement: select pg_sleep(1);
 pg_sleep 
----------
 
(1 row)
log_min_messages Tham số chỉ định mức độ mà log messages sẽ xuất phía server

Mặc định cho tham số này là WARNING. Tức là chỉ những messages có mức độ từ WARNING trở lên(WARNING, ERROR, LOG, FATAL, PANIC) mới được xuất. Tham số này hữu ích khi điều tra vấn đề gì đó xảy ra trên server của bạn.

$ psql
psql (11devel)
Type "help" for help.

postgres=# set log_min_messages to debug5;
SET
postgres=# select count(*) from pg_class;
 count 
-------
   343
(1 row)

postgres=# \q
$ tail -2 $PGDATA/log/postgresql-Wed.log | grep DEBUG
2018-05-16 07:42:50.299 JST [22540] DEBUG:  shmem_exit(-1): 0 on_shmem_exit callbacks to make
2018-05-16 07:42:50.299 JST [22540] DEBUG:  proc_exit(-1): 0 callbacks to make
$ 
log_min_error_statement Tham số chỉ định khi nào sẽ xuất câu lệnh SQL liên quan tới log messages hiện tại

Mặc định cho tham số này là ERROR. Tức là đối với các messages có mức độ từ ERROR trở lên (ERROR, LOG, FATAL, PANIC) khi xuất ra sẽ kèm với câu lệnh SQL tương ứng

postgres=# show log_min_error_statement;
 log_min_error_statement 
-------------------------
 error
(1 row)

postgres=# select testerror;
ERROR:	column "testerror" does not exist
LINE 1: select testerror;
	       ^
postgres=# \q
$ tail -3 $PGDATA/log/postgresql-Wed.log | grep ERROR -A2
2018-05-16 07:45:51.324 JST [22591] ERROR:  column "testerror" does not exist at character 8
2018-05-16 07:45:51.324 JST [22591] STATEMENT:	select testerror;
$ 
log_min_duration_statement Tham số chỉ định sẽ xuất log cho những SQL có thời gian thực thi lớn hơn giá trị chỉ định(đơn vị là mili giây)

Mặc định cho tham số này là -1 tức là sẽ không xuất các câu lệnh SQL đã chạy. Tham số này rất hữu ích cho việc xác định slow query trong PostgreSQL. Ví dụ: nếu thiết lập giá trị là '10s', những SQL nào chạy quá 10s sẽ được xuất ra log

postgres=# set client_min_messages to log;
SET
postgres=# set log_min_duration_statement to 100;
LOG:  duration: 0.103 ms  statement: set log_min_duration_statement to 100;
SET
postgres=# select pg_sleep(1);
LOG:  duration: 1003.193 ms  statement: select pg_sleep(1);
 pg_sleep 
----------
 
(1 row)

Nội dung log

tên paramter chức năng chú thích
log_connections Tham số chỉ định log thông tin khi kết nối.

Mặc định tham số này là off, tức là ko log khi kết nối. Thực tế khi tham số này on thì mỗi lần kết nối dung lượng log cũng không xuất ra nhiều (2 dòng), ta nên để on để phân tích log dễ dàng hơn. Tham số này chỉ chỉ định được trước khi bắt đầu session.

$ psql -c "show log_connections"
 log_connections 
-----------------
 on
(1 row)

$ tail $PGDATA/log/postgresql-Wed.log | grep -A1 "connection received"
2018-05-16 07:51:12.137 JST [22714] LOG:  connection received: host=[local]
2018-05-16 07:51:12.138 JST [22714] LOG:  connection authorized: user=postgres database=postgres
log_disconnections Tham số chỉ định log thông tin khi dữ liệu ngừng kết nối

Mặc định tham số này là off. Giống như log_connections, tham số này cũng nên thiết lập on để phân tích log dễ dàng hơn.

$ psql -c "show log_disconnections"
 log_disconnections 
--------------------
 on
(1 row)

$ tail -1 $PGDATA/log/postgresql-Wed.log
2018-05-16 07:53:49.485 JST [22754] LOG:  disconnection: session time: 0:00:00.003 user=postgres database=postgres host=[local]
log_error_verbosity Tham số chỉ định lượng log chi tiết xuất ra cho mỗi messages Giá trị có thể thiết lập là, TERSE, DEFAULT, và VERBOSE. Ở thiết lập TERSE, những thông tin DETAIL, HINT, QUERY và CONTEXT không được xuất. VERBOSE ngoài việc xuất những thông tin này ra, vị trí dòng code, tên hàm, tên file source code cũng được hiện thị. Những hệ thống có workload nhỏ có thể thiết lập lên VERBOSE để phân tích log dễ dàng hơn
log_duration Tham số cho phép xuất thời gian đã thực thi của mỗi câu lệnh SQL

Mặc định tham số này là off và chỉ có super user mới thay đổi được

postgres=# set log_duration to on;
SET
postgres=# set client_min_messages to log;
LOG:  duration: 0.075 ms
SET
postgres=# select pg_sleep(1);
LOG:  duration: 1002.341 ms
 pg_sleep 
----------
 
(1 row)

postgres=# 
log_line_prefix Tham số chỉ định tiền tố cho mỗi log messages

Tham số này có thể chỉ định theo ký tự % cho các thông tin khác nhau, cụ thể bạn có thể xem tại đây. Từ phiên bản 10 mặc định cho tham số này là '%m [%p] ', tức là thông tin về thời gian bao gồm cả mili giây(%m) và ID của tiến trình thực hiện log(%p). Thông thường để phân tích log khi có sự cố, ta thường thêm các thông tin như %d: truy cập cơ sở dữ liệu nào, %h: truy cập từ IP address nào, %u: truy cập bằng user nào, %x: trong transaction ID nào.

[postgres@localhost ~]$ psql -c "show log_line_prefix"
		     log_line_prefix			 
---------------------------------------------------------
 [%m host:%h database:%d user:%u PID:%p TransactionID:%x] 
(1 row)

[postgres@localhost ~]$ tail -1 $PGDATA/log/postgresql-Wed.log
[2018-05-16 07:57:33.815 JST host:[local] database:postgres user:postgres PID:22817 TransactionID:0] LOG:  disconnection: session time: 0:00:00.003 user=postgres database=postgres host=[local]
[postgres@localhost ~]$ 
log_statement Tham số cho phép log các lệnh SQL thực thi theo từng chủng loại chỉ định

Giá trị cho phép là off(mặc định), ddl: các câu lệnh SQL liên quan tới định nghĩa (CREATE, ALTER, DROP), mod: các câu lệnh SQL liên quan tới thay đổi dữ liệu(INSERT, UPDATE, DELETE, TRUNCATE,...), all: tất cả các câu lệnh SQL. Lưu ý thiết lập all cho tham số này có ý nghĩa tương tự như thiết lập tham số log_min_duration_statement = 0, nhưng log_min_duration_statement xuất các câu lệnh SQL khi đã thực thi xong còn log_statement log khi câu lệnh vừa được chạy(có thể chưa hoặc kết thúc). Tùy vào yêu cầu về mornitoring hệ thống, ta có thể kết hợp tham số này với log_duration hoặc chỉ sử dụng log_min_duration_statement để theo dõi các câu lệnh SQL thực thi

postgres=# set log_statement to 'ddl';
SET
postgres=# set client_min_messages to log;
SET
postgres=# create table testtbl(id integer);
LOG:  statement: create table testtbl(id integer);
CREATE TABLE
postgres=# insert into testtbl values(1);
INSERT 0 1
postgres=# drop table testtbl ;
LOG:  statement: drop table testtbl ;
DROP TABLE
postgres=#
log_temp_files Cho phép log khi có file tạm xuất ra tùy thuộc vào dung lượng file chỉ định

Đối với xử lý như hashjoin hay sort, PostgreSQL sử dụng bộ nhớ chỉ định trong tham số work_mem(cho mỗi process) để chứa dữ liệu tạm thời. Khi dữ liệu tạm thời vượt quá work_mem, PostgreSQL sẽ thực hiện sort/hashjoin trên đĩa cứng. Khi dung lượng file tạm sử dụng cho sort/hashjoin trên đĩa cứng lớn hơn log_temp_files, logger process sẽ xuất thông tin đó ra log file.

postgres=# set log_temp_files to 0;
SET
postgres=# set work_mem to 64;
SET
postgres=# show work_mem ;
 work_mem 
----------
 64kB
(1 row)

postgres=# explain analyze select * from pg_class order by relname desc;
						  QUERY PLAN					    
	   
----------------------------------------------------------------------------------------------------
-----------
 Sort  (cost=75.31..76.17 rows=342 width=262) (actual time=0.636..0.720 rows=343 loops=1)
   Sort Key: relname DESC
   Sort Method: external merge	Disk: 64kB
   ->  Seq Scan on pg_class  (cost=0.00..15.42 rows=342 width=262) (actual time=0.010..0.067 rows=34
3 loops=1)
 Planning Time: 0.862 ms
 Execution Time: 1.025 ms
(6 rows)

postgres=# \! tail -2 $PGDATA/log/postgresql-Wed.log
2018-05-16 08:10:36.530 JST [23134] LOG:  temporary file: path "base/pgsql_tmp/pgsql_tmp23134.0", size 65536
2018-05-16 08:10:36.530 JST [23134] STATEMENT:	explain analyze select * from pg_class order by relname desc;
postgres=# 
log_checkpoints Cho phép log thông tin CHECKPOINT khi chức năng này thực thi Mặc định cho tham số này là off. Tham số này cần thiết khi tinh chỉnh hệ thống liên quan tới bộ nhớ đệm và tần xuất lưu lượng mỗi CHECKPOINT. Bạn có thể tham khảm thêm ở bài viết checkpoint
log_lock_waits Tham số chỉ định xuất log liên quan khi lock wait cho session đó vượt quá thời gian chỉ định trong deadlock_timeout Mặc định cho tham số này là off. Nếu on PostgreSQL sẽ xuất log liên quan cho phiên đó khi quá thời gian deadlock_timeout(mặc định 1 giây) mà chưa thực thi được lock. Trong các hệ thống có work load (bạn có thể hiểu là tần xuất thực thi SQL) lớn, tham số này rất hữu ích cho việc tìm hiểu nguyên nhân slow query do lock wait hoặc phát hiện deadlock. Bạn có thể tham khảo thêm ở bài viết về lock

CHECKPOINT

Cơ chế lưu dữ liệu trên PostgreSQL

PostgreSQL cũng như một số RDBMS khác. Khi bạn chạy một câu lệnh cập nhật dữ liệu (UPDATE/INSERT/DELETE), dữ liệu vật lý trên đĩa cứng chưa thay đổi mà chỉ thay đổi trên bộ đệm (bộ nhớ dùng chung: PostgreSQL = shared_buffers). Khi bạn tham chiếu dữ liệu (SELECT), trước hết PostgreSQL xem dữ liệu tồn tại trên bộ đệm không, nếu tồn tại dữ liệu sẽ trả về người dùng. Nếu dữ liệu không tồn tại trên bộ đệm, PostgreSQL sẽ truy cập xuống vùng vật lý (ổ đĩa cứng) để lấy dữ liệu, sau đó trước khi trả về cho người dùng dữ liệu đó sẽ được đưa lên bộ đệm.
Cơ chế nêu trên làm tăng tốc độ xử lý nhờ vào việc giảm thiểu I/O trên đĩa cứng.

Độ lớn bộ đệm?

Độ lớn vùng nhớ đệm của PostgreSQL được chỉ định qua parameter shared_buffers (giá trị mặc định của parameter này tuỳ thuộc vào phiên bản PostgreSQL và bộ nhớ hệ thống).

Xem qua ở trên bạn chắc sẽ băn khoăn nếu dữ liệu vừa cập nhật trên bộ đệm, nếu máy tính bị tắt nguồn hoặc OS panic, thì dữ liệu này sẽ bị mất? Bạn yên tâm vì PostgreSQL cũng như các RDBMS khác PostgreSQL có cơ chế roll forward (phục hồi dữ liệu từ transaction log: WAL). Bạn có thể xem qua hình vẽ bên dưới để hiểu thêm.

CHECKPOINT

Khi buffer bị đầy PostgreSQL sẽ ghi những dirty buffers xuống đĩa để chỗ trống cho dữ liệu mới, quá trình này diễn ra liên tục làm tăng cách thao tác thừa sẽ ảnh hưởng tới người dùng. Vì vậy PostgreSQL cần có chức năng CHECKPOINT. CHECKPOINT là cơ chế đồng bộ dữ liệu cập nhật (đã commit) từ bộ nhớ đệm xuống dưới đĩa cứng.

Bạn có thể hình dung đơn giản chức năng CHECKPOINT thực hiện thông qua cơ chế ghi dữ liệu của PostgreSQL như bên dưới.

Cơ chế ghi dữ liệu của PostgreSQL

PostgreSQL thực hiện tự động xử lý checkpoint thông qua process checkpointer (phiên bản trước 9.2 thông qua background process). 


[postgres@ip-172-31-31-242 ~]$ pg_ctl status
pg_ctl: server is running (PID: 17397)
/usr/pgsql-9.6/bin/postgres
[postgres@ip-172-31-31-242 ~]$ ps -ef | grep 17397
postgres 14946 14348  0 13:11 pts/2    00:00:00 grep --color=auto 17397
postgres 17397     1  0 Apr11 pts/3    00:04:48 /usr/pgsql-9.6/bin/postgres
postgres 17398 17397  0 Apr11 ?        00:00:08 postgres: logger process   
postgres 17400 17397  0 Apr11 ?        00:00:10 **postgres: checkpointer process**  
postgres 17401 17397  0 Apr11 ?        00:01:08 postgres: writer process   
postgres 17402 17397  0 Apr11 ?        00:01:12 postgres: wal writer process  
postgres 17403 17397  0 Apr11 ?        00:04:31 postgres: autovacuum launcher process  
postgres 17404 17397  0 Apr11 ?        00:08:14 postgres: stats collector process  
[postgres@ip-172-31-31-242 ~]$   

CHECKPOINT diễn ra khi nào

Thông thường trong vận hành CHECKPOINT xảy ra khi có các điều kiện sau.

  • Khi thời gian từ lần CHECKPOINT trước vượt quá tham số checkpoint_timeout Mặc định parameter này là 5 phút. Như vậy chắc chắn trong vòng 5 phút sẽ có 1 CHECKPOINT xảy ra. Lưu ý: CHECKPOINT xử lý theo cơ chế này, để giảm thiểu disk I/O PostgreSQL làm thao tác này chậm hơn các cơ chế CHECKPOINT khác (sự trì hoãn này phụ thuộc vào giá trị của parameter checkpoint_completion_target).

    Khi CHECKPOINT theo cơ chế này xảy ra, PostgreSQL log sẽ có messages như bên dưới(lưu ý set log_checkpoints = on để xuất log khi có CHECKPOINT xảy ra)

    
    [2017-07-08 12:57:05.993 EDT ] LOG: checkpoint starting: time
    [2017-07-08 12:57:12.020 EDT ] LOG: checkpoint complete: wrote 64 buffers (0.4%); 0 transaction log file(s) added, 0 removed, 0 recycled; write=6.017 s, sync=0.002 s, total=6.026 s; sync files=17, longest=0.001 s, average=0.000 s; distance=730 kB, estimate=970 kB
    
    
  • Khi lượng dữ liệu transaction log (WAL) lớn hơn max_wal_size (phiên bản trước 9.5 là tham số checkpoint_segments) Khi dung lượng của WAL (transaction log, được lưu trữ trong <thư mục database>/pg_xlog (PostgreSQL 10 -> pg_wal)) vượt quá max_wal_size, CHECKPOINT sẽ tự động diễn ra.

    lưu ý: tương quan giữa max_wal_size và checkpoint_segments bạn có thể hiểu là (max_wal_size = checkpoint_segments*3 + 1)

    CHECKPOINT theo cơ chế này xảy ra sẽ có messages như bên dưới trong PostgreSQL's log.

    
    [2017-07-08 13:02:42.620 EDT ] LOG:  checkpoint starting: xlog
    [2017-07-08 13:02:43.921 EDT ] LOG:  checkpoint complete: wrote 2312 buffers (14.1%); 0 transaction log file(s) added, 1 removed, 1 recycled; write=1.011 s, sync=0.139 s, total=1.311 s; sync files=2, longest=0.139 s, average=0.069 s; distance=32759 kB, estimate=34561 kB
    
    
  • Ngoài ra CHECKPOINT còn xảy ra trong các trường hợp sau

  1. Chạy câu lệnh CHECKPOINT từ người dùng (quyền super user)
  2. Khi Shutdown server PostgreSQL
  3. Khi khởi động PostgreSQL trong chế độ recovery (roll forward)
  4. Khi tạo dữ liệu backup từ câu lệnh pg_basebackup

Tinh chỉnh CHECKPOINT sao cho hợp lý để hệ thống chạy tốt cũng là một việc quan trọng. Nếu tăng thời gian tự động CHECKPOINT, thì dữ liệu WAL sẽ nhiều, crash recovery, và CHECKPOINT sẽ mất nhiều thời gian ảnh hưởng tới người dùng. Nếu giảm thời gian này đi thì số lượng CHECKPOINT sẽ tăng lên, làm disk I/O tăng ảnh hưởng tới người dùng. Lưu ý là sau mỗi lần CHECKPOINT, lần cập nhật dữ liệu đầu tiên sẽ lưu cả block dữ liệu (full-page writes) lên WAL điều này làm ảnh hưởng tới disk I/O đáng kể. Vì vậy bạn nên thao khảo sát work-load của người dùng để quyết định tinh chỉnh như thế nào cho PostgreSQL chạy hiệu quả nhé.

Xin vui lòng đặt câu hỏi hoặc thảo luận bằng comments box bên dưới.

Đăng kí nhận RSS - Tinh chỉnh